Đóng
phap-ly-sau-ly-hon

Chili System 13/07/2018 Tin tức

Hậu quả pháp lý của ly hôn

Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực, quan hệ hôn nhân chấm dứt, mỗi bên vợ, chồng có quyền kết hôn với người khác.

3

Quan hệ tài sản của vợ chồng

Khi vợ chồng ly hôn, việc phân chia tài sản tuân theo các nguyên tắc được quy định tại điều 59, 60, 61, 62, 63, 64 của Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cụ thể là:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này.

Điều 63. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn

Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 64. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh

Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

Trên thực tế, căn cứ xác định tài sản riêng đã nhập vào vào khối tài sản chung vợ chồng thường không rõ ràng. Điều này xuất phát từ tính chất đặc thù của quan hệ hôn nhân. Khi chung sống hạnh phúc, vợ chồng thường không có sự phân biệt rõ ràng trong việc sử dụng tài sản chung và riêng. Vì vậy nhiều tài sản riêng được nhập và khối tài sản chung mà không có giấy tờ, văn bản nào chứng minh việc nhập tài sản đó. Đến khi mâu thuẫn xảy ra và việc ly hôn không thể tránh khỏi thì người có tài sản lại nói rằng họ chưa nhập khối tài sản đó vào tài sản chung của vợ chồng. Thực tế giải quyết các trường hợp như vậy gặp rất nhiều khó khăn, thường phải nhận định thực tế vào đặc tính quan hệ tình cảm vợ chồng, vào thời điểm nhập tài sản và thực tế việc sử dụng tài sản đó để đưa ra những nhận định.

Bên cạnh việc tranh chấp về nhập tài sản riêng vào tài chung vợ chồng, việc tặng cho tài sản riêng cho vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng vướng phải nhiều sự tranh chấp trên thực tế. Lý do, theo tập quán của người Việt Nam khi tặng cho ít khi thể hiện nội dung tặng cho bằng văn bản hoặc nếu lập thành văn bản thì chỉ ghi tên một trong hai người vợ hoặc chồng nhưng bên ngoài lại tuyên bố cho cả hai vợ chồng. Thậm chí trong trường hợp người tặng cho tài sản chỉ đưa cho một người nhưng trong ý chí của họ là tặng cho cả hai vợ chồng vì quan niệm “của vợ cũng là của chồng mà của chồng cũng là của vợ” hay “của chồng công vợ”. Nên khi tranh chấp xảy ra việc phân định tài sản đó là tài sản chung hay riêng gặp phải rất nhiều bàn cãi, theo quan điểm giải quyết của Tòa án trong trường hợp này cần phải xem xét lại ý chí của người tặng cho tài sản và thời điểm xác lập giao dịch tặng cho đó. Trong trường hợp không thể chứng minh được do người tặng cho đã mất thì áp dụng quy định của Luật hôn nhân và Gia đình 2014 tại khoản 3 Điều 33: Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

4

Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ con sau ly hôn

Căn cứ theo quy định tại điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Tiền cấp dưỡng nuôi con phải dựa trên những chi phí thực tế và cần thiết để đảm bảo cho con được nuôi dưỡng và học hành tốt. Nếu các bên không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Về phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì tòa án quy định cấp dưỡng theo hàng tháng. Trong thực tế xuất phát từ lợi ích và nhu cầu thực tế về sự phát triển của người con có những sự thay đổi về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng, sự thay đổi này do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.

5

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn

Căn cứ Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì: Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.

Nghĩa vụ này chấm dứt khi bên được cấp dưỡng không còn khó khăn, bên có nghĩa vụ cấp dưỡng không còn khả năng để tiếp tục cấp dưỡng, bên được cấp dưỡng kết hôn với người khác, đã hết thời gian cấp dưỡng mà các bên thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định một trong hai bên chết.

6

Hãy liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 0868304386 – Zalo – 0868304386 – Fanpage: Luật hùng vương – Website: luatsuquyen.vn để được tư vấn cụ thể về các hậu quả pháp lý sau ly hôn.

Tin tức Related
Chat Facebook
  • Chào bạn!

  • Bạn cần chúng tôi tư vấn hoặc hỗ trợ thêm thông tin gì không?

  • Chat ngay